Nhiều chuyên gia, nhà quản lý đã có những góp ý thực tiễn và tâm huyết cho TP.Hồ Chí Minh tại Hội thảo Khoa học cấp quốc gia “Luật Đô thị đặc biệt – Đột phá thể chế cho TP.Hồ Chí Minh” do HĐND TP.Hồ Chí Minh phối hợp với Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh tổ chức vào sáng 08/5.
Xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh cần hài hòa trong sự phát triển chung
Thảo luận tại Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, để phù hợp với nhu cầu phát triển, nhiều địa phương đã được trao một số quy chế đặc thù. Ở cấp độ luật, hiện nay có Luật Thủ đô (sửa đổi 2025) dành nhiều quy định riêng cho Hà Nội. Thủ đô Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều là các đô thị có quy chế đặc thù. Nhưng tương ứng với vị trí tính chất của từng đô thị mà nội dung, mức độ thẩm quyền đặc thù, cách quản trị, cách kiểm soát… cũng có khác nhau.
Theo đó, Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh cần phản ánh các mục tiêu và đặc thù của Thành phố. Nếu như Luật Thủ đô dành cho Hà Nội với tính cách là “trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế;… là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế của cả nước”, thì TP.Hồ Chí Minh là “trung tâm kinh tế – tài chính – đổi mới sáng tạo của vùng và đất nước”.

“Luật Đô thị đặc biệt cần tạo nên động lực tăng trưởng và cạnh tranh quốc tế cho Thành phố. Bởi vậy cách điều chỉnh luật Luật Đô thị đặc biệt cần ưu tiên là tính linh hoạt, thử nghiệm và phản ứng nhanh, thông qua quy định rộng rãi cho Thành phố trong các lĩnh vực mới, phân quyền tài chính mạnh, sử dụng các công cụ thị trường. Tương ứng về tổ chức cần có các cơ chế linh hoạt để thu hút chuyên gia quốc tế, và có thể ứng dụng chế độ công vụ đặc thù, mô hình trả lương theo vị trí việc làm, thậm chí sử dụng chuyên gia nước ngoài. Luật Thủ đô sửa đổi 2025 cũng có những gợi mở cho Luật Đô thị đặc biệt – thông qua các quy định mở và cơ chế phân quyền rộng rãi tương ứng. Nhưng thiết nghĩ trong mối quan hệ với Thủ đô, các cơ chế cho Luật Đô thị đặc biệt áp dụng với TP.Hồ Chí Minh cần có độ linh hoạt và chủ động hơn.” – PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh chia sẻ.
Để đảm bảo Luật Đô thị đặc biệt một mặt tạo những đột phá cho sự phát triển của Thành phố, mặt khác vẫn đảm bảo hài hòa quốc gia, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh cho rằng, Thành phố cần xác định rõ những lĩnh vực thẩm quyền riêng của đô thị, và ranh giới phân định với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền chung của quốc gia; các công việc và biện pháp mà Thành phố tự quyết định và những công việc Thành phố làm dựa trên Chiến lược chung của quốc gia. Có những lĩnh vực không phân quyền như quốc phòng – an ninh; chính sách tiền tệ, tài khóa vĩ mô; quyền con người, tố tụng…
Thứ hai, cần có cơ chế điều tiết và chia sẻ lợi ích, trong đó phân bổ tài chính là nhân tố quyết định, bao gồm các nguồn thu cho Thành phố, nguồn thu điều tiết về Trung ương và hỗ trợ phát triển vùng.
Gắn sự phát triển của Thành phố trong vùng Đông Nam Bộ, thể hiện trong quy hoạch liên vùng. Kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy Hội đồng điều phối vùng (có thẩm quyền thực chất về hạ tầng, logistics, môi trường) hay cơ chế đồng tài trợ dự án liên vùng (cảng, giao thông, chống ngập) là biện pháp hỗ trợ tốt để đảm bảo sự phát triển của đô thị lớn hài hòa với phát triển vùng.
Thứ ba, các cơ chế thử nghiệm trong Luật Đô thị đặc biệt cho phép Thành phố linh hoạt trong đổi mới sáng tạo và nhân rộng các mô hình kinh doanh mới (fintech, AI, PPP mới…), đồng thời có nghĩa vụ đánh giá, báo cáo với cấp trên để có thể nhân rộng mô hình trên toàn quốc.
Thứ tư, cơ chế kiểm tra giám sát cần được tăng cường đối với đô thị đặc biệt khi được trao nhiều quyền hạn đặc thù.
Phân quyền thực chất trong Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh
Thông tin tại Hội thảo, PGS.TS.Huỳnh Văn Thới, nguyên Quyền Giám đốc Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP.Hồ Chí Minh chia sẻ, Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh không đơn thuần là việc ban hành thêm văn bản pháp luật, mà là phép thử đối với tư duy tổ chức quyền lực trong Nhà nước hiện đại. Vấn đề đặt ra không ở việc có trao thêm thẩm quyền cho địa phương hay không, mà ở chỗ cách thức trao quyền đó có đủ khả năng tạo ra cơ chế vận hành hiệu quả, phù hợp với đặc trưng của một siêu đô thị hay không.

Phân quyền chỉ thực sự có ý nghĩa khi vượt qua được giới hạn hình thức để trở thành thực tiễn vận hành. Một cấu trúc quyền lực mà trong đó thẩm quyền được ghi nhận nhưng không thể thực thi một cách độc lập sẽ khó có thể tạo ra động lực phát triển. Chính vì vậy, việc xác lập phân quyền thực chất cần được đặt ra như một trong những trụ cột của thiết kế Luật Đô thị đặc biệt. Điều đó đòi hỏi sự chuyển biến trong tư duy tổ chức quyền lực: phân định thẩm quyền không dừng lại ở việc xác định ranh giới, mà phải đi liền với bảo đảm khả năng thực thi trên thực tế; kiểm soát không chỉ dựa vào quy trình, mà chủ yếu hướng vào kết quả; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển.
Phân quyền không thể tự vận hành nếu thiếu các điều kiện bảo đảm. Những điểm nghẽn cho thấy rõ, vấn đề không phụ thuộc vào một đạo luật đặc thù, mà liên quan đến toàn bộ cấu trúc thể chế. Nếu các điểm nghẽn này không được nhận diện và xử lý một cách thấu đáo, nguy cơ “bình mới rượu cũ” hoàn toàn có thể xảy ra. Ngược lại, nếu quá trình xây dựng Luật Đô thị đặc biệt đồng thời mở ra cơ hội để rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện các yếu tố nền tảng, thì đây sẽ là một bước tiến thực chất trong cải cách thể chế.
Phần lớn các quốc gia lựa chọn thiết kế cơ chế đặc thù trong khuôn khổ luật chung thay vì ban hành luật riêng cho từng đô thị. Điều này phản ánh yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nhưng điều đó không có nghĩa là dư địa cho đổi mới về cách làm đã khép lại. Ngược lại, trong những điều kiện nhất định, việc thiết kế một đạo luật riêng có thể trở thành công cụ để thử nghiệm những cách tiếp cận mới, với điều kiện đi kèm là phải có cơ chế kiểm soát phù hợp và khả năng điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực thi.
PGS.TS.Huỳnh Văn Thới chia sẻ, Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh có thể được nhìn nhận như một thử nghiệm thể chế có kiểm soát. Thành công của thử nghiệm này phụ thuộc vào khả năng dung hòa 03 yêu cầu tưởng chừng mâu thuẫn: Trao quyền đủ rộng để tạo ra sự chủ động; thiết lập cơ chế kiểm soát đủ chặt để bảo đảm kỷ cương và duy trì một không gian đủ mở để thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn. Việc tìm kiếm điểm cân bằng giữa ba yếu tố đó chính là thách thức, đồng thời cũng là cơ hội để tái định hình cách thức tổ chức quyền lực ở đô thị.
Tập trung thể chế hóa 06 nhóm nội dung quy hoạch và quản lý đô thị
Bàn về quy hoạch và quản lý đô thị cần thể chế hóa trong Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ cho rằng, Thành phố cần một thể chế đủ mạnh để biến quy hoạch thành hành động. Vì vậy, giá trị cốt lõi của Luật Đô thị đặc biệt là thiết lập một cơ chế pháp lý đủ linh hoạt, đủ nhanh và đủ hiệu lực để chuyển quy hoạch thành phát triển.
Theo đó, Luật cần tập trung thể chế hóa 06 nhóm nội dung trọng yếu.
Thứ nhất, thể chế hóa mô hình quy hoạch tích hợp, linh hoạt và hướng thực thi; cho phép quy hoạch gắn đồng thời với không gian, hạ tầng, đầu tư và tài chính; phê duyệt theo giai đoạn, cập nhật linh hoạt và điều chỉnh cục bộ nhanh trong ngưỡng và cơ chế kiểm soát.
Thứ hai, thể chế hóa cơ chế tài chính đô thị chủ động gắn với quy hoạch; cho phép vận hành các công cụ như quỹ phát triển đất, ngân hàng đất, TOD, PPP linh hoạt, trái phiếu đô thị, quỹ đầu tư hạ tầng và cơ chế thu giá trị tăng thêm từ đất để tạo nguồn thực hiện quy hoạch.
Thứ ba, thể chế hóa phân cấp thực chất và cơ chế tài chính linh hoạt cho cấp xã/phường; trao quyền thực chất trong quản lý không gian, điều chỉnh cục bộ, chuẩn bị đầu tư tại chỗ và cho phép chủ động bố trí kinh phí quy hoạch để xử lý nhanh các nhu cầu cấp bách sau sáp nhập.
Thứ tư, thể chế hóa vai trò đồng kiến tạo của doanh nghiệp và cộng đồng; xác lập doanh nghiệp là chủ thể tham gia từ giai đoạn hình thành quy hoạch, cộng đồng là chủ thể đồng thuận, đồng giám sát và đồng hưởng lợi trong toàn bộ quá trình phát triển.
Thứ năm, thể chế hóa cơ chế chuẩn bị đất, giải phóng mặt bằng và tái định cư theo hướng chủ động; cho phép chuẩn bị đất trước, đầu tư sau; tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập; coi tái định cư là chính sách phát triển gắn với sinh kế và chất lượng sống, gắn với những dự án nhà ở xã hội từ sáng kiến địa phương, nhằm giải quyết nhanh tính đồng thuận và đẩy nhanh quá trình đền bù giải phóng mặt bằng.
Thứ sáu, thể chế hóa cơ chế triển khai nhanh đối với các dự án chiến lược; thiết kế cơ chế “một quyết định liên thông” để tích hợp quy hoạch, đất đai, đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư và kế hoạch vốn trong một chuỗi quyết định thống nhất.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh không nên được thiết kế như một đạo luật tổ chức phát triển đô thị, mà phải trở thành nền tảng thể chế cho phát triển đô thị hiện đại nhằm tạo ra một thể chế đủ mạnh để quy hoạch khả thi hơn, đầu tư nhanh hơn, triển khai linh hoạt hơn và người dân được hưởng lợi rõ ràng hơn.
Đây là nền tảng để Thành phố không chỉ là một đô thị cực lớn, mà thực sự trở thành một đô thị đặc biệt hiện đại, linh hoạt, hiệu quả và có năng lực cạnh tranh thực chất ở tầm khu vực và hội nhập toàn cầu.
Tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Đô thị đặc biệt
Kết luận Hội thảo, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh Lê Trường Sơn cảm ơn các đại biểu đã tham dự và gửi bài tham luận; đồng thời cảm ơn những ý kiến trao đổi sâu sắc, tâm huyết của lãnh đạo Thành phố, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý.
Hội thảo đã tiếp cận vấn đề toàn diện, đa chiều và có chiều sâu khoa học. Các tham luận gửi đến Hội thảo, các tham luận trình bày tại Hội thảo và các ý kiến thảo luận đã tập trung làm rõ nhiều nhóm vấn đề trọng tâm như: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành Luật Đô thị đặc biệt; khung pháp lý của dự thảo Luật; tên gọi, đối tượng điều chỉnh của Luật; cơ chế phân cấp, phân quyền thực chất; tổ chức mô hình chính quyền đô thị; quản lý đất đai, tài chính, quy hoạch, hạ tầng, chuyển đổi số cũng như các cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong quản trị đô thị đặc biệt.
Nhiều ý kiến tham luận đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy “quản lý đô thị” sang “kiến tạo phát triển đô thị”; từ cơ chế thí điểm sang thể chế hóa ổn định, bền vững; đồng thời đề xuất các cơ chế đột phá phù hợp với vai trò của TP.Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của cả nước. Đặc biệt là ý kiến trao đổi, thảo luận sôi nổi về học thuật các vấn đề về Luật Đô thị đặc biệt phải phù hợp với Hiến pháp, Luật Thủ đô.
Hội thảo cũng ghi nhận nhiều nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng từ kinh nghiệm quốc tế về quản trị đô thị đặc biệt, phân quyền đô thị, phát triển trung tâm tài chính quốc tế, TOD, cơ chế tài chính – ngân sách và mô hình quản trị hiện đại tại các đô thị lớn trên thế giới. Đây là những luận cứ khoa học và thực tiễn rất có ý nghĩa cho việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Đô thị đặc biệt trong thời gian tới.
Ban Tổ chức Hội thảo sẽ nghiêm túc tổng hợp toàn bộ các tham luận, ý kiến trao đổi, đề xuất và kiến nghị của đại biểu để báo cáo, gửi đến các cơ quan có thẩm quyền nhằm phục vụ trực tiếp quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP.Hồ Chí Minh.
Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh Lê Trường Sơn tin tưởng rằng, những kết quả của Hội thảo sẽ tiếp tục được chuyển hóa thành các giá trị chính sách và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của Thành phố trong giai đoạn mới.
Nguồn dẫn: Phượng Châu – Hài Hòa/ Cổng TTĐT TP.HCM
Link bài gốc: https://hochiminhcity.gov.vn/vi/web/hcm/w/nhieu-e-xuat-ot-pha-the-che-cho-tpho-chi-minh-trong-luat-o-thi-ac-biet


