Chiều 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, tại phiên thảo luận “Các ngành kinh tế mới: Khai thác tiềm năng kinh tế tầm thấp”, các chuyên gia, doanh nghiệp tập trung thảo luận giải pháp thương mại hóa công nghệ, hoàn thiện chính sách và phát triển thị trường kinh tế tầm thấp tại Việt Nam.
Nhiều dư địa phát triển Kinh tế không gian tầm thấp
Chia sẻ chủ đề “Kinh tế không gian tầm thấp Việt Nam và các gợi ý về chính sách”, bà Bùi Minh Phương, Phó Viện trưởng Viện Phát triển Không gian tầm thấp thuộc Hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam (VASA) cho biết, Kinh tế tầm thấp trên toàn cầu được dự báo đạt 128 tỷ USD vào năm 2030, trong khi thị trường UAV tại Việt Nam dự kiến đạt khoảng 10 tỷ USD vào năm 2035, điiều này cho thấy dư địa phát triển rất đáng kể. Tuy nhiên, thách thức lớn là làm sao chuyển hóa tiềm năng này thành giá trị kinh tế và năng lực công nghệ thực sự trong nước.
Bà Phương cho rằng, dựa trên Kết luận số 99 của Bộ Chính trị ngày 28/09/2026 “Về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới”, Không gian tầm thấp được xác định là tài nguyên quốc gia và không gian phát triển mới, gắn liền với yêu cầu bảo đảm chủ quyền, dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ biên giới, biển đảo, đô thị.
Đồng thời bà Bùi Minh Phương nhận định, việc phát triển thị trường nên bắt đầu từ những nhu cầu hiện hữu của thị trường thay vì tạo ra thị trường mới hoàn toàn. Các lĩnh vực khả thi bao gồm nông nghiệp chính xác, giám sát hạ tầng, logistics y tế và bản đồ số. Ví dụ, tại Đồng bằng sông Cửu Long, đã có hơn 3.000 drone phục vụ nông nghiệp tính đến năm 2025.
Bà cho rằng, giá trị kinh tế không chỉ ở phần cứng mà còn nằm ở phần mềm, phân tích dữ liệu, bảo trì và dịch vụ vận hành. Việt Nam cần xác định phân khúc phù hợp để từng bước nâng cao tỷ lệ giá trị nội địa.
Chia sẻ về kinh nghiệm quốc tế từ mô hình giao hàng bằng UAV của Meituan (Trung Quốc), bà Bùi Minh Phương nhấn mạnh, sự cần thiết phải gắn ứng dụng công nghệ với nhu cầu thực tiễn và quy trình dịch vụ bài bản. Nhà nước cần có chính sách định hướng, thử nghiệm và nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Bà cũng đưa ra những thách thức đối với Việt Nam như: hành lang pháp lý hiện thiếu cơ chế phối hợp liên ngành, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định phân định rõ trách nhiệm pháp lý; Việc mở rộng bay gần khu dân cư và cơ sở trọng yếu mang lại rủi ro, đòi hỏi năng lực giám sát và kiểm soát sự cố tương ứng. Ngoài ra, tiếng ồn, nguy cơ vi phạm quyền riêng tư và tai nạn có thể làm giảm sự ủng hộ của cộng đồng.
Động lực phát triển kinh tế
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Hải Hằng – Nguyên Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên minh Kinh tế tầm thấp cho rằng, Khái niệm “kinh tế tầm thấp” là khái niệm mới xuất hiện gần đây, mặc dù thiết bị bay không người lái đã có mặt từ rất lâu.
Trước đây lĩnh vực này chưa được coi là một nền kinh tế, nhưng qua vài năm gần đây với các ứng dụng thử nghiệm tại Trung Quốc và Mỹ đã hình thành nên một ngành kinh tế thực sự. Nhờ tích lũy đủ công nghệ và sự tự tin về hoạt động khai thác, con người bắt đầu bước vào giai đoạn khai mở thêm một tầng không gian mới mà từ trước đến nay còn rất hạn chế.
Bà Nguyễn Thị Hải Hằng nhận định, Bài học kinh nghiệm quốc tế lớn nhất ở đây là mọi sự phát triển đều phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế để giải quyết các bài toán thực tế, chứ không phải xuất phát từ sự phát triển của công nghệ. Nếu đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, ngành này mới có thể phát triển bền vững.
Theo bà Hằng, nhiều quốc gia trên thế giới đã đi trước và Việt Nam cũng đang mong muốn tận dụng ưu thế để bắt kịp, biến kinh tế tầm thấp thành một động lực phát triển cho nền kinh tế. Tuy nhiên, mọi sự phát triển đều phải xuất phát từ bài toán thực tiễn của thị trường, xác định rõ Chính phủ mong muốn ứng dụng công nghệ này để giải quyết vấn đề gì.
Hiện nay, nhà nước đã ban hành các chiến lược và chính sách để dần củng cố hành lang pháp lý cho sự phát triển này. Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi, Việt Nam không thể phát triển dàn trải mà phải lựa chọn các ưu tiên. Nên ưu tiên những lĩnh vực có nhu cầu rõ ràng và có khả năng thương mại hóa được.
Phó Chủ tịch Liên minh Kinh tế tầm thấp đề xuất hướng đi phù hợp cho Việt Nam là lựa chọn đúng nhu cầu, chứng minh được hiệu quả, bảo đảm an toàn, sau đó mới tiến hành mở rộng quy mô. Bà Nguyễn Thị Hải Hằng cho biết, trong Liên minh kinh tế tầm thấp và mạng lưới hàng không vũ trụ, các thành viên thường xuyên thảo luận rằng: Trước khi than phiền về các cơ chế chính sách khó khăn, bản thân các doanh nghiệp phải nỗ lực chứng minh các hoạt động của mình là hiệu quả và an toàn.
Hoàn thiện thể chế quản lý không gian tầm thấp
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Thuật, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, gần đây, Việt Nam đã chính thức xác định kinh tế không gian tầm thấp là một không gian phát triển mới, đặt cạnh không gian ngầm và không gian vũ trụ. Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Chính phủ ban hành nghị định về cơ chế chính sách “sandbox”, cho phép các doanh nghiệp vận dụng các quy định của luật khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để triển khai các mô hình kinh doanh mới trong không gian tầm thấp.
Ông Nguyễn Văn Thuật cho rằng, thực tế, kinh tế tầm thấp đã phát triển khá mạnh tại Việt Nam từ hơn 10 năm trước, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long, khi người nông dân tiên phong ứng dụng thiết bị UAV phục vụ gieo hạt, tưới tiêu và phun thuốc trừ sâu rất hiệu quả.
Gần đây, các hoạt động ứng dụng UAV đã bắt đầu được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn như dùng để giám sát hạ tầng viễn thông, hạ tầng lưới điện, năng lượng, hoặc những nơi con người khó tiếp cận.
Ông nhấn mạnh cần phân biệt rõ giữa việc “bay thử thành công” và “thương mại hóa thành công”. Một ứng dụng có thể bay thử nhiều chuyến nhưng chưa chắc đã trở thành một mô hình kinh doanh bền vững.
Một mô hình thành công bao gồm các yếu tố như: Có thị trường thực sự hay không, tức là có người sẵn sàng trả tiền cho ứng dụng đó thay vì dùng phương thức truyền thống với hiệu quả kinh tế tốt hơn. Ứng dụng đó phải được vận hành một cách an toàn và ổn định.
Thêm một yếu tố để đánh giá sự thành công của mô hình thử nghiệm là khả năng nhân rộng. Cụ thể, khi đã triển khai thành công ở một địa phương, mô hình đó cần có khả năng áp dụng thành công ở những nơi khác với cùng một điều kiện mà không cần phải thiết kế lại toàn bộ công nghệ, hạ tầng cơ sở hay cơ chế quản lý.
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số cho biết, Bộ Khoa học và Công nghệ đang tập trung vào các nhóm nhiệm vụ chính: Hoàn thiện thể chế quản lý không gian tầm thấp theo mức độ rủi ro, phân loại các hoạt động để quản lý chặt chẽ đối với rủi ro cao và nới lỏng đối với các hoạt động đơn giản.
Song song đó, xây dựng cơ chế điều phối liên ngành (bao gồm Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ,…) vì hoạt động trên không gian này đòi hỏi sự thống nhất giữa nhiều bộ ngành.
Xây dựng hạ tầng quản trị số quốc gia (nền tảng UTM) để quản lý các hoạt động bay theo thời gian thực từ khâu nhập khẩu, sản xuất đến khi thực hiện chuyến bay.
Bên cạnh đó, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đã có quyết định cho phép sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế để thúc đẩy nhanh quá trình này, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, phát triển hạ tầng, tổ chức vận hành đồng bộ và phát triển nguồn nhân lực (bao gồm nhân lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và nhân lực vận hành thiết bị bay).
Nguồn dẫn: Hà Trang/ Cổng TTĐT TP.HCM
Link bài gốc: https://hochiminhcity.gov.vn/vi/web/hcm/w/cac-giai-phap-phat-trien-thi-truong-kinh-te-tam-thap-tai-viet-nam


